Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết phát biểu tại lễ Khai mạc Hội nghị người Việt ở nước ngoài lần thứ nhất hôm 21/11. Hội nghị chuyên đề “Chuyên gia, trí thức kiều bào góp phần vào sự nghiệp xây dựng đất nước” là một trong 4 hội nghị chuyên đề được tổ chức trong khuôn khổ Hội nghị người Việt ở nước ngoài lần thứ nhất diễn ra từ ngày 21-23/11. Hội nghị này đã thu hút sự đóng góp ý kiến sôi nổi và tích cực của rất nhiều kiều bào. Điều đó đã chứng tỏ kiều bào ngày càng hướng về quê hương, đất nước.

Có lẽ phần mở đầu trong tham luận của bà Nguyễn Huỳnh Mai - Kiều bào tại Bỉ đã nói thay được tấm lòng của hàng triệu kiều bào. “Đinh cư ở nước ngoài từ lâu, cũng như nhiều Việt kiều khác, tôi vẫn mang tâm trạng thao thức hướng về đất nước, vẫn tạc dạ hai câu thơ của thầy tôi, ngày xưa khuyên:

Mai giúp nhà giúp nước
Con ráng học nghe con


Giúp nhà giúp nước, nhiều Việt kiều đã dấn thân bằng những phương thức đa diện, muôn màu muôn vẻ”.

10 bài tham luận đóng góp ý kiến xây dựng đất nước đầy tâm huyết của các đại biểu kiều bào đã lần lượt được trình bày tại hội nghị. Hai vấn đề được các kiều bào đề cập đến nhiều nhất là cơ chế chính sách thu hút trí thức kiều bào và cải cách hệ thống giáo dục.

Cơ chế chính sách thu hút trí thức kiều bào

Chính vì mong mỏi, khao khát được đóng góp sức mình vào công cuộc xây dựng quê hương, đất nước nên hầu như các tham luận của kiều bào đều đề cập đến việc xây dựng cơ chế, chính sách thu hút trí thức kiều bào.

Trong tham luận của mình, ông Võ Toàn Trung - Tiến sỹ y học, bác sỹ các bệnh viện vùng Paris Île-de-France, Việt Kiều Pháp, và Tiến sĩ Tô Thanh Bình, Việt kiều tại CHLB Đức, đều cho rằng tiềm năng trí thức của kiều bào là rất lớn, được đánh giá là một thế mạnh của cộng đồng, nhưng hầu như chưa có chính sách khai thác hiệu quả.

Ông Trung nói: “Theo những con số không chính thức hiện nay chúng ta có hơn hai triệu người Việt Nam hoặc gốc Việt Nam sinh sống trên thế giới tập trung chủ yếu ở Mỹ hơn 1 triệu người, ở Pháp hơn 200000 người, ở Canada 150000 người, ở Châu Đại Dương khoảng 275000 người”. Theo ông Trung, rất nhiều người Việt Nam ở nước ngoài thành đạt, có vị trí trong xã hội và được đánh giá cao trong giới khoa học của nước sở tại. “Hơn nữa, đại đa số những người Việt Nam hoặc gốc Việt Nam đều có tấm lòng yêu nước và hướng về nơi chôn rau cắt rốn”.

Còn trong bài tham luận của mình, ông Bình cho biết hiện nay “chúng ta có rất nhiều trí thức Việt kiều giỏi, nhiều người đang giữ những cương vị chủ chốt trong công tác quản lý, nghiên cứu trong các lĩnh vực mũi nhọn ở các nước công nghiệp tiên tiến trên thế giới như Anh, Pháp, Đức, Mỹ, Bỉ, Nhật, Canada, v.v. Đó là một nguồn chất xám vô cùng quý giá, đầy tiềm năng”.

Như vậy kiều bào không chỉ có tiềm năng trí thức mà còn có một tấm lòng muốn đóng góp cho quê hương đất nước. Tuy nhiên, “hiện nay chúng ta vẫn chưa tận dụng và khai thác được nguồn lực quý báu này để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam thành một quốc gia công nghiệp hiện đại, với nền Khoa học kỹ thuật tiên tiến”, ông Bình khẳng định.

Vì vậy, theo các kiều bào, để xây dựng một đội ngũ trí thức lớn mạnh cần có sự quan tâm hơn nữa của Đảng và Nhà nước, đặc biệt phải xây dựng được một “cơ chế đặc biệt” mang tính đột phá nhằm thu hút hơn nữa nguồn lực cả về kinh tế và chất xám của chuyên gia, trí thức kiều bào.

Các kiều bào đã đóng góp một số ý kiến nhằm giúp Việt Nam xây dựng một cơ chế hiệu quả để thu hút đội nghũ trí thức Việt kiều về đóng góp cho quê hương.

Theo các kiều bào, những chính sách liên quan đến kiều bào nên tham khảo ý kiến của họ. Việt Nam cần có biện pháp để những chính sách đã được ban hành được thực thi có hiệu quả: tạo điều kiện thuận lợi để kiều bào mua nhà ở, loại bỏ những thủ tục hành chính không cần thiết, thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết các thủ tục hành chính với đối với kiều bào.

Tiến sĩ Trung, Việt kiều Pháp thì đề xuất Việt Nam nên tạo điều kiện cho số trí thức Việt Nam đang làm việc ở nước ngoài được phép tham dự và nắm giữ những cương vị công tác khoa học tương xứng với nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể đi cùng với quyền được tổ chức và lãnh đạo nhóm nghiên cứu khoa học, với những mục tiêu được xác định cụ thể trong một giai đoạn cụ thể nhằm nhanh chóng đưa trình độ khoa học của đơn vị mình phụ trách lên tầm quốc tế.

Ngoài ra, Việt Nam cũng nên tạo cơ chế cho phép trí thức Việt Nam ở nước ngoài được đóng góp trong việc hoạch định chiến lược phát triển quốc gia trong ngắn, trung và dài hạn thông qua những cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Về hình thức, biện pháp để tập hợp trí thức Việt kiều, các đại biểu kiều bào đều cho rằng Việt Nam cần có một tổ chức đầu mối để tập hợp thông tin và hỗ trợ anh em trí thức ở bên ngoài về nước đóng góp. Một trung tâm thông tin của kiều bào, 1 website để trí thức kiều bào và trí thức trong nước có thể giới thiệu khả năng và nhu cầu của mình sẽ là hình thức hữu hiệu giúp chuyển giao tri thức của kiều bào về trong nước. Đảng và Nhà nước nên dành một phần ngân sách cho việc xây dựng các trung tâm nghiên cứu công nghệ cao nhằm thu hút các trí thức kiều bào về nghiên cứu, chuyển giao công nghệ, ngoài ra xây dựng nhóm chuyên gia đầu ngành nhằm tăng cường trao đổi thông tin giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước.

Cải cách hệ thống giáo dục

Ngoài cơ chế chính sách thu hút trí thức kiều bào, cải cách hệ thống giáo dục là một trong những nội dung được nhiều đại biểu trí thức kiều bào đóng góp ý kiến nhất. Do có nhiều kiều bào đến từ các nước có nền giáo dục phát triển nên những ý kiến đóng góp của các đại biểu rất thiết thực và có ý nghĩa.

TS Nguyễn Quốc Vọng, Giáo sư Trường Khoa học Ứng dụng Đại học RMIT, Melbourne, Việt Kiều Australia, đã đóng góp một bản tham luận được chuẩn bị công phu chứa đựng nhiều góp ý thiết thực cho công tác đổi mới giáo dục ở Việt Nam.

Trong bài tham luận, Giáo sư Vọng đã đề cập đến thực trạng giáo dục Việt Nam. “Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo, niên khoá 2006-07, Việt Nam có 1,2 triệu sinh viên, chiếm 11% trong tổng số khoảng 11,2 triệu người trong lứa tuổi từ 18 – 24. Tuy Việt Nam có khoảng 6.600 giáo sư và phó giáo sư, nhưng thực sự số GS/PGS tham gia giảng dạy ở đại học chỉ là 320 Giáo Sư và 1966 Phó Giáo Sư (chiếm 35% trong tổng số 6.600).

Nếu cả nước có 162 trường đại học, và với thực số GS/PGS là 2.286 người, thì tính trung bình, mỗi đại học chỉ có 14 GS/PGS và cứ 25 sinh viên có một giảng viên. Trong số gần 47.646 giảng viên đại học và cao đẳng, có hơn 50% ở trình độ cử nhân, 30% thạc sĩ, và 13% tiến sĩ. Do đó, nhìn chung có thể nói ở Việt Nam cử nhân đào tạo cử nhân, kỹ sư đào tạo kỹ sư.

Hơn nữa, “việc giáo dục và đào tạo ở đại học Việt Nam phần lớn nặng về giảng dạy, ít nghiên cứu hợp của công ty Intel ở thành phố Hồ chí Minh tuyển chọn nhân viên đã cho thấy rất rõ chất lượng đào tạo của đại học Việt Nam: Công ty muốn tuyển 2000 chuyên viên. Qua khảo hạch có 90 sinh viên chấm đậu về kiến thức. Nhưng qua phỏng vấn, Intel chỉ tuyển được có 40 người có trình độ tiếng Anh. Như vậy chỉ có 2% sinh viên được Intel chấp nhận cho làm việc. Đó là 2% sinh viên có trình độ “quốc tế”. Đây là kết quả tồi tệ nhất mà công ty Intel đã gặp phải trong quá trình mở rộng đầu tư ở nước ngoài của mình.

Với một tình hình như vậy, theo ông Vọng, không ngạc nhiên khi thấy Việt Nam vẫn chưa có một trường đại học nào được công nhận có chất lượng, được xếp hạng “top 500” trong bảng xếp hạng của thế giới. Ngay cả trong khu vực, không có một đại học nào của Việt Nam có tên trong bất cứ danh sách các trường đại học hàng đầu ở Á châu. Đại học Việt Nam bị cô lập ra khỏi dòng kiến thức chung quốc tế. Chỉ số phát minh/sáng tạo của Việt Nam trong khu vực là zero (Vallely and Wilkinson, 2008. Đại học Harvard, Mỹ)”, ông Vọng phát biểu.

Trước thực trạng này, theo ông Vọng, Việt Nam nên tạo điều kiện cho nước ngoài đầu tư xây dựng các trường đại học. Hiện vẫn có rất ít các trường đại học uy tín ở nước ngoài thành lập đại học ở Việt Nam vì ngại kiểu can thiệp của chính phủ vào đại học như ở Việt Nam, mà theo họ là nguyên nhân làm mất đi tính cạnh tranh và sáng tạo.

Ngoài ra, Việt Nam cần phải có chính sách ưu tiên cho giáo dục, đào tạo trí thức ở nước ngoài để trở về phục vụ đất nước và cần phải lập ra được một số trường đại học có chất lượng giảng dạy đạt tiêu chuẩn quốc tế với chương trình học tiên tiến. Để làm được điều đó, Việt Nam cần phải làm được 3 điều:

Thứ nhất, các trường đại học của Việt Nam nên mở rộng hợp tác với các trường đại học quốc tế, chủ yếu trong khối nói tiếng Anh.

Thứ hai là xúc tiến mối liên kết đại học – kỹ nghệ/doanh nghiệp Việt kiều trong và ngoài nước. Ở nước ngoài mối liên kết đại học – doanh nghiệp là một sự hợp tác mang tính sống chết cho cả hai phía. Để trở thành một công cụ tốt cho các ngành kỹ nghệ phát triển, ngoài việc giảng dạy, đại học Việt Nam còn phải là trung tâm nghiên cứu khoa học kỹ thuật để chuyển giao công nghệ cho doanh nghiệp để các ngành kỹ nghệ này ngày một phát triển, có tính cạnh tranh cao, xuất khẩu nhiều. Ngược lại phía doanh nghiệp cũng phải cung cấp cho đại học tài chính và những yêu cầu, đòi hỏi mới của thị trường để đại học cập nhật kiến thức, định hướng nghiên cứu, đào tạo kỹ năng cho sinh viên, và nếu cần, xây dựng một ngành học mới để giải quyết tức khắc yêu cầu xã hội. Mối liên kết đại học – doanh nghiệp chỉ thành công khi đại học có sản phẩm khoa học kỹ thuật bởi vì các doanh nghiệp chỉ yểm trợ tài chính cho đại học khi họ thấy có lợi vì đã giải quyết một cách hiệu quả các khó khăn mà doanh nghiệp đang gặp phải.

Thứ ba, chuyển giao công nghệ là công tác chính của đại học. Đại học nào có nhiều thành quả nghiên cứu thì việc chuyển giao công nghệ càng nhiều và nhận được sự yểm trợ tài chính từ doanh nghiệp càng cao. Nhưng chuyển giao công nghệ quốc tế lại còn quan trọng và hiệu quả hơn nhiều vì đây là chuyển giao những công nghệ cao nhất của thế giới từ những bàn tay và khối óc của những cá nhân và tập thể siêu việt nhất. Về điểm này Việt Nam cũng có lợi thế hơn hẳn các nước láng giềng vì đã có rất nhiều doanh nghiệp Việt kiều hoạt động trên khắp thế giới mà trong đó có nhiều doanh nghiệp tên tuổi. Nếu có sự hợp tác của thành phần này, dưới hình thức đầu tư công nghệ cao vào Việt Nam hoặc là điểm tựa cho Việt Nam xuất khẩu , thì cũng sẽ rất có lợi cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

Trong khi đó, theo Giáo sư Nguyễn Đình Lâm, Việt Kiều Kazakhstan, Việc Nam nên có chính sách cụ thể, chi tiết nhằm thu hút các chuyên gia, các nhà bác học, các GS, TS kiều bào về nước làm việc, giảng dạy, mở trường ở các bậc học khác nhau.


Hải Yến