- Lúc chị đồng ý về làm vợ anh cũng là khi anh và mẹ quyết tâm từ bỏ cái “nghề” nay góc chợ này, mai con hẻm khác, ngửa tay đi xin từng đồng lẻ, từng miếng bánh ăn dở. Nhà anh nghèo. Anh và mẹ anh đều mù. Những bờ vai đã tìm đến nhau, nương tựa vào nhau, để rồi chầm chậm từng bước dìu dắt nhau đi qua bóng tối.
Bốn thế hệ mù trong một gia đình
“Nếu tình hình cứ như thế này thì điều đó e là sẽ xảy ra thôi”- cố bấm chặt môi, ngăn cho miệng không cất lên thành tiếng mà nước mắt chị Tình cứ chảy dài trên gò má: “Ba người còn chưa đủ hay sao mà ông giời còn tính đòi luôn cả ánh sáng của con tôi”.
Những tưởng số phận bất hạnh chỉ giáng xuống đến cụ rồi bà nội, rồi bố cái Thanh (Phạm Thị Thu Thanh, 6 tuổi, con anh chị-PV) là đủ rồi, quá lắm rồi! Vậy mà mới gần đây thôi, các bác sĩ đã thông báo cho anh chị biết đáy mắt của Thanh không trong như trẻ khác. Tạm thời cháu chưa phải phẫu thuật, chỉ cần uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ nhưng đến khi cháu 12 – 15 tuổi, nếu không mổ thì mắt cháu cũng như ánh sáng của cây nến trước giông gió, sẽ tắt và ngừng tỏa sáng.
Các thế hệ trong gia đình

Anh làm đấm bóp ở cơ sở của Thành hội người mù thành phố Phủ Lý, Hà Nam tháng nào may mắn thì được hơn trăm ngàn. Chị kẻ chỉ cho cơ sở may gần nhà, tháng họ trả cho hơn 500 ngàn, ruộng vườn vài ba sào cấy, chẳng đủ ăn huống chi tính chuyện có tiền chạy chữa cho con. Gần 20 triệu là số tiền các bác sĩ đã thông báo nếu anh chị muốn chữa mắt cho con.

Cái nhà mái bằng này của họ cũng là tiền của bà bác Trần Bạch Yến (gọi cụ của cháu Thanh, Phạm Thị Dài bằng dì) bên Mỹ gởi tiền về xây cho hồi năm 2003. Năm 2007, cụ Dài mất (hưởng thọ 84 tuổi) thì bà Yến cũng thôi giúp đỡ hai mẹ con anh. Trong nhà trống trơn, cái đáng giá nhất có lẽ là cái quạt điện đã cũ, mỗi lần bật lên phát ra tiếng kêu sành sạch.

Lâu rồi mới lại có người tới nhà bà Huyền (Phạm Thị Huyền, 51 tuổi, mẹ anh) nên bà vui lắm. Nước sôi bà mời khách đượm khói rơm rạ nhưng cứ nhìn đôi tay run run đưa tay hết vờ lấy ca nước, chén nước mới thấy cái tình cảm ấy đáng quý biết bao.

Câu chuyện của chúng tôi thỉnh thoảng lại phải dừng lại bởi những tiếng nấc nghẹn ngào và cái khoảng trống bao la của im lặng: “Năm 36 tuổi, mắt mẹ tôi cứ mờ dần rồi thì tối sầm lại khi sinh ra tôi một thời gian. Mẹ bồng bế tôi đi ăn xin hết nơi này đến nơi khác. Lớn hơn, mẹ cho tôi đi học, một mình bà lọ mọ đi ăn xin một mình. Tôi học đến lớp 2 thì đau đầu quá, ngất luôn ở lớp học. Nằm ở trạm xá xã Liêm Trung (khi ấy là thị xã Phủ Lý, Hà Nam) ba ngày rồi được chuyển lên Viện 2. Nằm ở đó nửa tháng, đến khi lên đến Viện Mắt TƯ (Hà Nội) thì các bác sĩ cho biết tôi được cho lên đây muộn quá, không chữa được nữa”.

Bà Huyền không có chồng. Anh Phạm Văn Cường, sinh năm 1983 là con bà đi “xin” người ta. Hồi nhỏ, bà Huyền cũng cho con đi học mẫu giáo nhưng vì Cường mắt kém quá nên không lên được lớp mấy lần thì bị nhà trường trả về. Cách đây 3 năm, mắt anh còn nhìn được theo kiểu “quáng gà”, nhưng giờ thì mắt toàn một màu đục ngầu, xám xịt.

"Dù anh nghèo, em vẫn còn yêu
"
Từ đời bà nội Cường rồi đến đời mẹ Cường và anh, để kiếm sống, nghề duy nhất của họ là đi…ăn xin. Tối, thấy nhà nào có mái hiên thì hai mẹ con tìm đến ngủ..nhờ. Tấm vải mưa rách dùng làm chăn đắp cho khỏi muỗi đốt và che mưa khi trời đổ mưa. Có hôm đi bộ, rạc miệng xin ăn mà chẳng có gì, hai mẹ con phải nhặt bã mía rơi vãi ở chợ chiều, cho lên áo, lau qua rồi ăn. “Cực lắm, khổ lắm. Nhưng hai mẹ con tôi còn biết làm gì nữa?”- Bà Huyền thở than.
Hai mẹ con đã từng dắt nhau đi ăn xin
Cái ngày chị Tình đồng ý theo anh, tới giờ mà anh cứ ngỡ như trong…mơ. Chị Tình người làng Trại Hạ, xã Liêm Cần, huyện Thanh Liêm cách nhà anh thôn Bình Khê, xã Liêm Trung, thành phố Phủ Lý, Hà Nam chỉ khoảng 4km. Chị là con cả trong gia đình ba chị em. Nhà chị cũng chẳng lấy gì làm khấm khá. Bà mối của họ là một người buôn bán đồng nát. Hoàn cảnh của anh, chị được thông báo từ trước. Vậy mà lúc gặp anh và mẹ, những giọt nước mắt dù cố nén vẫn bật ra thật đau đớn. Anh chẳng nói gì, chỉ ậm ừ: “Lấy anh, em sẽ khổ lắm đấy”. Chị càng yêu anh, thương mẹ anh hơn. Chỉ muốn ghé đôi vai, cùng gánh chung nỗi vất vả của hai mẹ con anh.

Hơn hai tháng sau ngày quen nhau, gạt bỏ mọi lời đàm tiếu, mọi sự can ngăn từ bạn bè và người thân, đám cưới của họ đã diễn ra thật giản dị và ấm cúng với chỉ mấy mâm cơm thưa cùng tổ tiên, anh em họ hàng.

Hai năm sau, cái Thanh chào đời trong niềm vui khôn tả của gia đình hai họ. Có con cũng là khi anh được theo vào sinh hoạt ở hội người mù thành phố Phủ Lý. Ở hội, anh được dạy học chữ nổi Braille, được học đấm bóp. Anh bàn với vợ: "Hai vợ chồng mình cố gắng làm ăn, mẹ cũng già rồi nên để mẹ ở nhà". Chị chỉ im lặng, gật đầu đồng ý. Chị hiểu lòng anh đau lắm khi để mẹ đi ăn xin ngoài đường.

Mỗi tháng anh đi làm, tằn tiện ăn uống cũng được 100.000đ – 150.000đ. Chị xin được một chân kẻ chỉ ở một cơ sở may gần nhà, mỗi tháng chăm chỉ làm cũng được 500.000đ: “Thế là mình có tiền đóng học cho cái Thanh rồi. Ăn uống thì thế nào cũng xong”- chị Tình cười xòa, rồi bỗng chùng xuống: “Hẵng cứ biết thế này đã thôi. Muốn tính xa cũng đâu có được, hả chú?”.

Anh đi làm ở hội người mù, cách nhà cả chục cây số. Chị đi làm cũng cho cái Thanh theo: “Cháu ngoan lắm, đến chỗ làm với mẹ không quậy nghịch nên các cô chú ở đó ai cũng quý”- khuôn mặt chị Tình tươi hẳn lên. Tan ca, chị lại tất tả về nhà lo cơm nước cho hai bà cháu.

Bà Huyền bảo: “Mẹ con tôi ơn cháu nó lắm. Giờ chuyện đồng áng đến chăm chồng, dạy con không có cháu nó chẳng biết mọi chuyện sẽ thế nào cả”.

Chiều dần xuống, buông những tia nắng yếu ớt xuyên qua cánh cửa sổ bên nhà, len lỏi vào bàn uống nước. Bóng bốn con người hắt dài trên vách tường. Tiếng cười của bé Thanh xua tan đi cái trống vắng của căn nhà.
  • Văn Chung